Tuesday, August 26, 2025

SINH NHẬT CHÁU TÔ 26/8/2025

 HÔM NAY 2 ANH EM BÔ VÀ TÔ QUA NHÀ NGOẠI VỚI DÌ MIU TỰ MUA BÁNH LÀM SINH BẤT NGỜ CHO TÔ TÔ 


==================== 

sinh nhât tại nhà Tô Tô hôm sau






TRÍ TUỆ NHÂN TẠO -TIỂU SỬ NHÀ VĂN ĐINH HOA LƯ

 


Đinh Hoa Lư là bút danh của Đinh Trọng Phúc, một nhà văn và tác giả hồi ký người Việt Nam, nổi bật với những tác phẩm phản ánh chân thực về lịch sử, xã hội miền Nam trong thời kỳ chiến tranh và hậu chiến, cùng với sự gắn bó sâu sắc với quê hương Quảng Trị.

Cuộc đời của Đinh Hoa Lư

Đinh Hoa Lư tên thật là Đinh Trọng Phúc, sinh năm 1953 tại Quảng Trị. Ông có xuất thân trong gia đình có cha làm công chức ngành Công An và trưởng chi công an tỉnh Quảng Trị. Trong thời niên thiếu, ông đã theo thân phụ công tác ở nhiều nơi thuộc vùng quê ngoại. Giai đoạn chiến tranh, ông nhập ngũ và phục vụ tại nhiều đơn vị ở miền Nam Việt Nam, trải qua những năm tháng gian khổ, bao gồm cả thời gian bị bắt làm tù binh.

Sau năm 1980, ông trở về với gia đình và sau 15 năm định cư tại Mỹ (San Jose, California), ông hoàn thành bằng Cử nhân Khoa học Xã hội tại Đại học San Jose State vào năm 2012. Tại Hoa Kỳ, Đinh Hoa Lư hoạt động văn học với hơn hai thập kỷ viết lách và dịch thuật, chủ yếu tập trung vào các chủ đề chính trị - xã hội, đồng thời hỗ trợ cộng đồng người Việt tỵ nạn. Ông là người có đóng góp tích cực trong việc ghi lại ký ức và lịch sử miền Nam Việt Nam dưới hình thức hồi ký và các bài viết sâu sắc, chân thật về đời sống người dân miền Nam trong thời chiến[ 6 ].

Tác phẩm và giá trị văn học

Tác phẩm nổi bật của ông là các hồi ký, ghi lại trải nghiệm cá nhân trong bối cảnh chiến tranh và các biến động lịch sử miền Nam, đặc biệt là những ký ức về quê hương Quảng Trị, vùng đất chịu nhiều hậu quả nặng nề trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Qua đó, ông không chỉ kể lại biến cố lịch sử mà còn làm nổi bật giá trị nhân văn, sự chân thật và sâu sắc trong việc tái hiện đời sống, tâm trạng và số phận con người thời kỳ đó.

Phong cách viết của Đinh Hoa Lư gần gũi, chân thành, truyền tải cảm xúc mạnh mẽ và có chiều sâu về xã hội và chính trị, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học miền Nam, đồng thời lưu giữ những ký ức và góc nhìn rất đặc trưng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại[ 6 ]. Ông cũng tích cực tham gia dịch thuật các tác phẩm văn học nước ngoài sang tiếng Việt.

Liên hệ với Hoa Lư và di sản lịch sử

Mặc dù bút danh Đinh Hoa Lư gợi nhắc đến kinh đô Hoa Lư lịch sử - trung tâm hành chính và lịch sử của ba triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý có ý nghĩa định đoạt vận mệnh dân tộc Việt, tác giả Đinh Hoa Lư là một cá nhân hiện đại với những tác phẩm phản ánh dòng chảy lịch sử chân thực, khác biệt.

Kinh đô Hoa Lư là biểu tượng lịch sử quan trọng, từng là nơi Đinh Tiên Hoàng dựng nền độc lập và xây dựng quốc gia Đại Cồ Việt vào thế kỷ X, với nhiều dấu ấn về thống nhất giang sơn và phát triển kinh tế, văn hóa, quân sự – là nền tảng cho sự phát triển của các triều đại Việt Nam kế tiếp.

Kết luận

Đinh Hoa Lư không chỉ là một tác giả ghi lại bằng văn chương những tháng năm đầy bi tráng của miền Nam trong chiến tranh mà còn là một cây bút có sức ảnh hưởng trong cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Mỹ, với những tác phẩm chứa đựng chiều sâu tâm hồn, lịch sử và văn hóa đậm nét. Việc ghi chép và viết về miền Nam một thời đã góp phần giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về quá khứ đầy biến động của dân tộc, qua góc nhìn cá nhân nhưng giàu tính lịch sử và nhân văn

Sunday, August 17, 2025

ĐỜI LƯU DÂN QUẢNG TRỊ VẪN MÃI NHỮNG MÁI TRANH NGHÈO

 


Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh

có sông sâu lờ lững vờn quanh
êm xuôi về Nam.
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau.
Bóng tre ru bên mấy hàng cau.
đồng quê mơ màng...

(NS: CHUNG QUÂN)


    Phận đời lưu dân của người Quảng Trị trải qua không biết mấy lần. Ra đi mang hai chữ lưu dân gắn liền với phận đời gian truân cực khổ trong chết chóc bom đạn. Người QT phải giã từ nơi "chôn nhau cắt rốn" đi về hướng nam tìm nơi chở che cho mạng sống dân nghèo. Sự đau xót cho bao người phải lìa xa quê hương lưu luyến cùng bao tình cảm mặn nồng đó là chẳng mấy ai hẹn được ngày về.
'


     Khói lửa, chết chóc phủ chụp lên số phận quê mình, từ thời ông bà đổ lại. Tất cả gom lại trong hai tiếng  "chạy giặc" mà thôi. Từ thời giặc Pháp đã lắm đoạn trường, đến lúc sau này chẳng kém đau thuơng. Bao thời sống dưới hai lằn đạn, Quảng trị khổ, đói đã đành nhưng trên bàn thờ mọi nhà không bao giờ thiếu bát nhang thờ người thân thuộc từng chết vì chiến tranh. Chuyện nhà cửa cháy- xây không biết mấy bận. Cho đến lúc chỉ có tranh lợp tạm nhưng chẳng chịu yên, lại thành tro bụi rồi lại dựng xây...
 







    Hình ảnh mái tranh nghèo dần dà là hình ảnh quen thuộc cho người dân quê mình, một quê hương "cày lên sỏi đá" cố sống qua ngày đoạn tháng. Mỗi mùa đông lạnh cắt da cắt thịt,"cắn ngón tay không còn chảy máu",  người  quê mình từng quay quắt, có lúc chẳng biết lấy chi bỏ đầy cái bao tử trống không. Đó là nỗi khổ của chiến tranh, đói lạnh.



LẠI CỨ MÃI RA ĐI

    Mùa Hè Đỏ Lửa, người Quảng Trị phải đành bỏ xứ mà đi. Người quê mình phải di dân vào tận xứ Bình Tuy, một thời người ta gọi là đất "Thầy Thím" do đây có đông dân tộc người Chăm, tiếng QT quen miệng gọi là "Chàm". 

    Người Chàm, tháp Chàm cũng do tiếng chỉ dân tộc Champa mà ra.
Xưa Công chúa Huyền Trân hi sinh thân ngọc để đổi hai châu Ô và Rý cho người QT hiện nay thì từ cái năm máu lửa 1972 con cháu người Qt lại tiến sâu hơn nữa. BÌnh Tuy những mật khu, những rừng gỗ quý ken dày , sức người làm không xuể , biển cả đầy ắp cá đang chờ sức người Qt vào khai hoang lập ấp:


"Gánh cực mà đổ lên non
Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo" 







    1975 hòa bình rồi, thống nhất rồi ; thế mà người di dân QT vẫn không thoát khỏi cái "số cực". Rừng đốn hết, nào củi, nào than, tất cả cho cái bao tử. "Miệng ăn núi lở", thế là ba cái rẫy bạc màu lần hồi không còn lợi tức! Miệng ăn càng sinh sôi, nảy nở càng đông, rừng đốt làm than dần hồi cũng hết. Thế là vài năm sau 1975 lại tiếp tục di dân theo kiểu đi 'kinh tế mới' vào tận miền nam lục tỉnh-Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ nhất là Bạc Liêu. Nhưng đâu có yên, bà con QT sống không quen kiểu "ướt át vùng sông nước"như dân lục tỉnh, nên cũng lại phải tứ tán lần nữa? Rõ ràng, số khổ nó vẫn theo bước chân "giang hồ' người dân xứ Quảng.



    Ai nói hai chữ "cu -ly" chỉ có trong lịch sử dân mình vào thời Pháp thuộc ? hết gạo, cạn cơm người QT tại tỉnh Bình Tuy (Hàm tân, Đức Linh) chen nhau tìm đến các nông trường cao su Long Khánh -Bà Rịa- Biên Hoà sau này còn gọi cái tên mới là tỉnh Đồng Nai. Họ bon chen thậm chí giành nhau 'nộp' cho được những tờ đơn khẩn thiết nhất, ai oán nhất để xin cho được vào làm 'cu li' tại các nông trường. Một thời của thập niên 1980 không biết bao nhiêu nông trường cao su mọc lên ở những vùng đất "bazan" màu mỡ tại Long Khánh, Biên Hòa...Đến bây giờ tầng lớp lao công người QT đó chắc đã quá thất thập bát thập và dĩ nhiên phần nhiều đã "xuôi tay" giã từ kiếp sống lưu dân khốn khổ ngày nào. Nhưng số phận công nhân nông trường ngày đó còn may mắn hơn số phận bà con lưu dân không vào được các nông trường đó do chỉ có vô được các nơi đó bà con mình còn sướng hơn hay an phận hơn ở ngoài.
Làm sao quên hình ảnh những ngày khi các liếp cao su mới trồng lên, còn non. Quả thật đó là ân huệ của trên ban xuống. Ngoài gạo tiêu chuẩn, người công nhân nông trường nhận đất còn thưa lại có cơ hội trồng dặm đậu,mè kể cả tỉa lúa khô để có thêm lợi tức. Một quá khứ, nhiều đồn điền cao su Long Khánh, vài nơi gần Long Thành hay Bà Rịa, ta đi đâu cũng nghe giọng nói Quảng Trị 'đặc sệt'. Người QT gần nhau vàn công nhau cắt lúa rẫy đất nông trường, hay nhổ đậu, thu hoạch mè...

 Ôi thương làm răng, Quảng trị đời "bọ mẹ" di dân, đẻ ra đời con, rồi đến đời cháu cùng ở một nhà. Mấy thập niên trôi qua, lớp mẹ cha ra đi biệt xứ, nay đến đời cháu con sinh ra lớn lên nơi xứ lạ quê người nhưng trở thành thân thuộc như quê cha đất tổ chẳng biết lúc nào.

Nhiều lắm,  người QT -tiếng QT- bao nhiêu khuôn mặt, màu da khắc khổ cho đến giọng nói nghe quen tai khó lòng lẫn lộn. Tiếng và người trải dài từ Bà Tô, Bình Giã, Ngãi Giao; từ các nông trường Hòa Bình, Cụ Bị, Xà Bang  cho đến giáp giới  Đức Linh Bình Thuận hay tiếp với Biên Hòa... 

Những mái tranh trong những vùng đất rẫy từ ngày Khai Hoang Lập Ấp vào xứ Bình Tuy, cũng như sau 1975 bao dãy nhà tranh xây dựng quy cũ, ngay hàng- thẳng lối trong các nông trường cao su, phần đông đều là những thế hệ di dân QT, già và trẻ ngày ngày nương nhau mà sống.

Chạy giặc, di dân lập ấp, rừng rú biển cả, tiếp đến là những liếp rừng cao su bạt ngàn xa ngót tầm mắt miền đất đỏ Long khánh trong nam để chan hòa máu và mồ hôi bao nhiêu thế hệ Quảng Trị quê mình. 


Kiếp 'cu ly' nông trường, đổi mồ hôi kiếm gạo tiêu chuẩn: nơi này đội trưởng nông trường quyền thế 'như vua'. Gạo cơm , phân bón , tiền bạc lương huớng , cắt công , khai công trong tay đội trưởng . Trên đội trưởng là trưởng nông trường . Tất cả đều có đời sống dư dật giàu sang, chỉ có người 'cu li' trực tiếp lao động là khổ. Nhưng cái thời này , gạo quý 'như vàng' người Qt dám đi đâu để mất tiêu chuẩn . Vài ba năm đầu , cao su chưa cao , 'cu li' nông trường còn có đôi chút an ủi nhờ trồng chen vào giữa những luống cao su nào đậu nào bắp , nhất là lúa 'vại' tức khác với lúa cấy chỉ mọc đất khô . Nông trường cũng chẳng gây khó khăn chi vì trồng chen ở giữa thì cao su khỏi bị cỏ hãm cũng hay . Một công hai việc cho người 'cu li' . Người Qt lại 'vàn công' nhau , thu hoạch mùa màng giữa những luống cao su. Thời này ngó vậy mà vui, vừa có gạo vừa có thêm tiền.


Khác với những kẻ ra đi, ra đi đây là ra đi đợt hai, đợt ba sau khi di dân vào nam rồi. Người ở lại Bình tuy, nhất là ở huyện Hàm Tân lại càng thiếu thốn hơn. Những đồi cát bạc màu sát biển, lúa bắp không còn lên nỗi. Những nương rẫy, trồng lên bới xuống nhiều lần, đến nỗi tranh cũng khó mọc lên cao.





Ôi! những buổi cắt tranh sao quá gian nan chán nản. Cái thuở được phát tồn lợp nhà và tiêu chuẩn gạo di dân LẬP ẤP 1973 -74 đã nằm trong quá khứ. Người bứt tranh đứng nhìn những đồi hoang hóa, tranh cao không quá đầu gối, chỏng cọng ngao ngán trong lòng. Tranh tốt thì người bứt không biết mệt. Tranh xấu vừa làm vừa chạy quanh. Bứt tranh là tiếng cũ, có thể gọi là cắt tranh hay cắt gianh theo tiếng Bắc. Tiếng gì thì tiếng, tranh dài ngọn là điều mừng rỡ nhất để về lợp mái tranh nghèo đang thời giột nát, hay lợp nhà mới nếu không có tiền mua. Nhưng tiền đâu, nếu hai bàn tay chỉ biết cầm cuốc, liềm, rựa?



nghề bứt tranh: một thời kiếm ra gạo tiền nhờ nó




Người bứt tranh (cắt tranh) giỏi, ngoài kiếm được cái nghề chuyên nghiệp làm tranh, đánh tranh bán độ nhật, còn có thêm biệt hiệu. Dân QT ngang đây thấy hơi giống dân nam: chú Hùng nghề bứt tranh xóm ba mạ tôi ở, thì gọi cái tên Hùng Tranh. Tội nghiệp giờ đây chú đã ra người thiên cổ. Nghề bứt tranh cũng chung số phận đó là NGHÈO; 'có đồng nào xào đồng đó' làm gì để dành được?


Thời thế đổi dời; thiên hạ 'đổi mới' trong khi xã hội toàn nhà xây,  nghề bứt tranh cũng đi vào 'lịch sử' thế là chú Hùng ngày ngày, thân bệnh hoạn, ngồi ngó ra con đường kiệt xem 'xe nổ' chạy đầy đường. Có thể Chú 
ngồi  nhớ lại những ngày bứt tranh khấm khá: "cái nào ngàn đó" có khi tranh 'hút' lên giá 1.200. Thím Hùng ngày đó 'le te' đi chợ Cam Bình mua đồ bổ, ngon cho chú 'bồi dưỡng', giờ còn đâu?

Hãy để cho Chú Hùng và hình ảnh những cái tranh, đánh dày, đánh mỏng, dài ngắn; hay những gánh tranh người nông phu lúp xúp gánh về tận chợ tỉnh LaGi vẫn đắt hàng, đi vào 'lịch sử' của di dân QT một thời.
 
Lớp cháu con đâu nghĩ ra hình ảnh những cái rẫy tranh khi bị cháy ra sao? Ai ác bỏ tàn thuốc, hay cố ý đốt. Những liếp tranh đã cắt , chờ khô gánh về lợp nhà nay ra tro bụi. Những mái nhà đang cần tranh lợp mới ra sao? Những nuộc lạt đang ngâm nước, chờ tranh hất lên mái nhà, đòn tay con thơm mùi gỗ rừng, giờ xem như bị đình lại vì tranh đã bị cháy sạch?


Rẫy rừng và những mái nhà tranh tưởng chừng là 'điệp khúc bất tận' cho kiếp người dân lưu xứ Quảng trị quê mình. Nếu mai sau ai có tấm lòng ghi lại thì quả là hình ảnh bi tráng cho một thời đi mãi với kiếp lưu dân.
 Thật khổ làm sao!

ĐHL tái đăng 

edition 27/6/2025 San Jose USA

Saturday, August 16, 2025

ÔNG NGOẠI QUA GIỮ CHÁU

 














CỤ THẠCH LỮ VÀ ÚT NGOẠI

 


                                                                    Cụ Thạch Lữ
  

   Lệ thuờng đời các bậc cha mẹ người Việt chúng ta hay thuơng con út. Càng về già càng thuơng càng nhớ con út thế mới lạ. Tôi thì nghĩ rằng con út chúng ta sinh sau đẻ muộn vì thế thời gian kề cận hay nói khác đi sống gần cha mẹ ít hơn các anh các chị nên các bậc cha mẹ mới dành tình cảm nhiều cho út.

   Mẹ gia tôi là là con gái kế út của cụ Thạch Lữ (tức ông ngoại của bà xã tôi). Em 
gái út của mẹ gia tôi qua đời sớm nên mẹ gia tôi được coi như là Út gái của gia đình Ngoại. Ngày hai vợ chồng tôi nên duyên chồng vợ thì gia đình bên mẹ gia tôi vì ở xa cố ngoại mấy cháu tức là Cụ nên không biết làm sao mời đươc Cụ vào tham dự. Lúc này vào đầu năm 1983 tuổi hạc cụ đã cao , sức khỏe kém nên Cụ Thạch Lữ không đi xa được . Từ Nha Trang vào Bình Tuy phương tiện hết sức khó khăn không phải dễ dàng như thời bấy giờ. Thập niên 1980 giao thông quá hiếm hoi, những bến xe quốc doanh mỗi chiếc xe chỉ bán vài vé là hết! phải đi "chợ đen" mới có. Những vùng nông thôn hẻo lánh lâu lâu mới có một chiếc xe đò quốc doanh chạy về. Xăng nhớt hết sức khó khăn; mấy chiếc xe phải ì ạch chạy bằng than, lửa hừng hực nóng đằng sau chỉ một thời gian hư máy phải bỏ xó , thật là thê thảm. 

   Nghe tin đám cưới cháu út ngoại (tức là bà xã tôi), có nghĩa là trưởng nữ của út gái của Cụ đi lấy chồng mà ông ngoại không biết làm sao vô Bình Tuy ! Thời thế đổi dời, Cụ ông Cụ Bà sống ẩn dật và đạm bạc tại Nha trang , vui thú đối đáp thi phú với các vị trưởng lão gần quanh , yên phận tuổi già.

                                         
  cái phái thuốc AN THAI Cụ Cụ gửi cho vợ chồng tôi 1983
                          cái thư cụ phải gử nhờ người khác từ La Gi đưa về [lá thư lâu ngày bị mất 1 góc ]
hàng dưới đề: nhờ chuyển cháu Sinh / nhờ cháu Sinh chuyển  cháu Đinh trọng Phúc




    Ngày xưa mẹ gia tôi hay đau yếu Cụ là nhà Nho vừa là lương y chăm sóc thuốc men cho mẹ gia tôi là nhiều nhất . Đến khi cháu ngoại có chồng Cụ cũng không quên chuyện thuốc men . Bà xã tôi có bầu đứa đầu , ông ngoại gữi từ Nha Trang tìm cho ra một địa chỉ người quen mà gửi phái thuốc cho cháu ngoại uống cho an thai. Cái thời mà ba tỉnh Phan rang, Bình thuận, Bình tuy đang còn là một tức là Thuận Hải có người nói khác đi là "kinh hãi"! chỉ có lớp già chúng ta mới nhớ lại bao nỗi cực khổ, thiếu thốn vào dạo đó đến độ "kinh hoàng". Nào ngăn sông cấm chợ, nào quản lý thị trường , một vài chục lon gạo đem cho bà con từ Đức linh về Hàm tân cũng bị thu gom, vài ký mực từ Hàm tân đem lên Sài Gòn tức là THÀNH PHỐ cũng bị bắt tại cái trạm Lán Gòn (còn gọi là Lán Cón). Lá thư gửi vào được Huyện Hàm tân là quý giá lắm rồi, làm gì có chuyện điện tín hay điện thoại vào thời đó?

                         
Đinh trọng Duy Trung con trai đầu tôi sau này sinh đầu tháng 11 năm 1983



          

  Tơ phái thuốc của ông Ngoại tự tay Ông viết sau đó Người gửi nhờ qua tay người khác đến được vùng kinh tế Động Đền là món quà tinh thần to lớn là tinh thương của ông Ngoại ngày đó trao đến cho vợ chồng chúng tôi cho con trai đầu lòng của tôi và thâm thúy nhất là tình thương bao la của ông ngoại chúng tôi gửi về con gái kế út của Cụ.

    Cũng như bạn như tôi, nếu có út thì hay  nhớ lắm, nhất là khi út còn nhỏ còn nhỏng nhẻo.

    Mà lỡ út lớn rồi cũng chẳng sao , vì khi nào út cũng bé bỏng trước mắt ba mẹ cả./.


Nhớ Về Cụ Thạch Lữ
đinh trọng phúc 

Saturday, August 9, 2025

QUÊ HƯƠNG QUẢNG TRỊ CỦA ĐHL qua NHẬN XÉT CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

 


Hồi ký Đinh Hoa Lư nổi bật bởi sự chân thật, sâu sắc trong việc ghi lại trải nghiệm cá nhân và bối cảnh lịch sử, đặc biệt phản ánh chân thực cuộc sống và biến động chính trị ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh.

Chân Thật và Sâu Sắc về Bối Cảnh Lịch Sử

 

Đinh Hoa Lư đã khắc họa sống động những ký ức về đời sống hàng ngày và những biến cố chính trị tại miền Nam trong thời kỳ chiến tranh và hỗn loạn, từ biến cố cá nhân đến số phận của người lính miền Nam với nỗi đau, mất mát, cũng như hy vọng hòa bình và tự do 

Ký Ức Cá Nhân Gắn Bó Với Quê Hương Quảng Trị



Tác giả sinh ra và lớn lên tại Quảng Trị, vùng đất chịu nhiều hậu quả của chiến tranh, vì thế những hồi ký còn là những hoài niệm về quê hương, với những hình ảnh sống động vùng đất bị bom đạn tàn phá trong Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972. Những trải nghiệm về thời đi lính, làm tù binh và cuộc sống sau chiến tranh đều được ghi lại tỉ mỉ và chân thực 

 

Số Phận Lịch Sử Giao Thoa Với Trải Nghiệm Cá Nhân




Hồi ký của Đinh Hoa Lư không chỉ là tập hợp những câu chuyện riêng lẻ mà còn phản ánh dòng chảy lịch sử lớn, như Hiệp định Paris 1973, những ngày tháng chiến dịch đi tuyên truyền hòa bình, và những biến động trong nội bộ miền Nam trước khi đất nước thống nhất. Tác phẩm rất giàu cảm xúc và góp phần làm phong phú văn học miền Nam thời kỳ đó 

.

Phong Cách Viết và Giá Trị Văn Hóa



Ngoài nội dung, hồi ký còn được đánh giá cao về cách thể hiện chân thực, gần gũi, truyền tải cảm xúc với người đọc. Tác giả cũng có quan điểm sâu sắc về chính trị, xã hội và từng dịch nhiều tác phẩm văn học nước ngoài, làm phong phú thêm cho văn hóa Việt Nam hải ngoại 


Các Ấn Phẩm và Ghi Âm



Ngoài sách, nhiều hồi ký của Đinh Hoa Lư đã được chuyển thể thành các bản ghi âm, video với giọng đọc truyền cảm, góp phần lưu giữ và phổ biến câu chuyện miền Nam một cách hiệu quả tới công chúng 

 

Tóm lại, hồi ký Đinh Hoa Lư là món quà quý giá giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử, cuộc sống, và tâm trạng của người miền Nam trong những năm tháng đầy biến động, đồng thời ghi lại một phần ký ức dân tộc một cách sâu sắc và chân thực.


9/8/2025




TRÍ TUỆ NHÂN TẠO (AI)

NGÀY ĐÓ NAY ĐÃ LÀ NGÀY XƯA

 Hình ảnh nhiều người thân nay đã thực sự nằm vào vũng dĩ vãng. Tôi cảm nhận ra bao hiu quạnh cùng sâu lắng trong lòng khi về lại thôn x...